|
|
Chùa Diệu Đế |
(NetCoDo) Mả ông Trạng: dọc theo thành sau của chùa Diệu Đế ở Ngự Viên, người ta thường hay để các hủ tiểu sành đựng các bào thai bị sẩy (tục gọi là những Ông Trạng) cốt ý để hồn của thai nhi được dựa nhà chùa, cửa Phật. Sau này, lần lần vì hết chỗ, các hũ đựng thai nhi này được để lần qua các vệ đường phía sau lưng chùa Diệu Đế. "Xóm Mả Ông Trạng" lại là xóm của gái Giang Hồ, cũng ở sau lưng chùa Diệu Đế, sát nách chùa Diệu Hỉ.
Lầu Ông Hoàng Tùng đệ (Lầu Vĩnh Cẩn): Nhà lầu 2 tầng ở đường Mã Khái trong Thành Nội (song song với đường Hòa Bình tức là đường đi sát với bờ tường phía Bắc của Đại Nội). Ông Vĩnh Cẩn (còn được gọi là Ông Hoàng Tùng Đệ) là em họ của vua Bảo Đại đã được qua Pháp cùng một lần với vua Bảo Đại cho có bạn. Đường Mã Khái là đường đi vào trường Canh Nông ngày trước.
Lầu Ông Năm (đồn Săng Đá): gần khách sạn Morin, trên đường từ cầu Trường Tiền về An Cựu và Miễu Đại càng, nơi ở của quan năm người Pháp chỉ huy đồn lính Lê Dương ở đồn Săng đá.
Lầu Ông Sáu: lầu của viên đại tá người Pháp chỉ huy Huế nằm ở trên bờ sông Hương, gần toà Khâm sứ, gần toà Khâm sứ, gần ga, gần đồn lính khố xanh, có vườn rộng, nay làm dinh tỉnh trưởng.
Liễu Cốc Hạ: Làng nằm trên nhánh sông Bồ, về phía Bắc Huế, gần làng La Vân, Vân Cù, dân hiền hòa.
Long Thọ Cương: Tức là đồi Long Thọ. Vua Gia Long đổi lại thành "Đồi Thọ Cương". Đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824) lại được đổi lại là "Long Thọ Cương".Trên đồi có một đình bát giát gọi là "Long Thọ Cương Đình". Tại đồi Long Thọ, vua Gia Long đã thuê thợ Quảng Đông để sản xuất loại ngoái lưu ly, để lợp mái cung điện, màu xanh, màu vàng, lục. Sau đó Long Thọ còn được sản xuất đồ gồm tráng men. Dấu vết của 8 lò gạch ngói, 13 lò gốm còn lưu lại đến 1917 qua sự đào bới của Rigault (giám đốc nhà máy Long Thọ), đã tìm được các loại gạch quả quýt, các thuốc loại men trắng cho lăng tẩm, ngói vòm để lợp, gạch rồng để làm lan can, loại chữ "thọ", các con lân, với các màu vàng nhạt, đậm và xanh ô liu. Cũng theo khảo cứu thì đất sét ở Long Thọ không thể nung cao quá 900 độ để tráng men do đó phải dùng đất sét ở làng Vân Cù, Triều Sơn (Lại An) (khoảng 1812- 1814). Sau đó từ thời kỳ Minh Mạng, Tự Đức, đồ gốm trở nên tinh xảo hơn, mịn hơn, đều hơn, mỏng hơn và màu sắc trong hơn. Năm 1885 với sự xuất bôn của vua Hàm Nghi, lò Long Thọ ngưng hoạt động trong 25 năm. Mãi đến năm 1909, Nam triều cho Ông Gagaert dựng nhà máy vôi ở đó và cũng cung ứng lại loại ngói tráng men sản xuất từ các đời trước để sữa chữa các cung điện trong Đại Nội (theo Rigault, BVVH, 1917).
Long Thọ (Nguyệt Biều): Vùng phía Tây Huế, bên kia sông, có nhà máy nước và nhà máy vôi Long Thọ.
Lồi (Chàm, Chiêm Thành, Hời, Campa): chỉ nguời Chàm (Thành Lồi). Tên Phạn là Campa. Người Chàm gọi là người Cam. Ngoài ra, xứ Chàm hay Chiêm Thành này còn được gọi là xứ Campa.
Mang cá: Nằm góc Đông Bắc của Kinh Thành Huế, có nhiệm vụ bảo vệ cho Kinh Thành chống lại địch quân từ biển Đông thâm nhập Huế qua cửa Thuận An. Thành này có tên là Trấn Bình Đài. Năm 1883 dưới đời vua Hiệp Hòa, theo Hoà ước Harmand, thành Mang Cá là nhượng địa đầu tiên của Triều Đình Huế dành cho Pháp. Chiếm Mang Cá tức là chiếm giữ cái yết hầu của hệ thống phòng thủ của triều đình. Ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (7/1885), Tôn Thất Thuyết muốn đánh chiếm thành Mang Cá nhưng không được, sau đó phải phò vua Hàm Nghi rời kinh đô ra Tân Sở (theo Nguyễn Đắc Xuân).
Ngọc Thanh Thủy (Trích từ Tự điển tiếng Huế của Bùi Minh Đức) |