1.1. Một số khái niệm cần làm rõ
Trong bài, chúng tôi sử dụng ba thuật ngữ "Chúa sớm", "Chúa muộn". "Nhà Nguyễn", tương ứng với các giai đoạn lịch sử; sự phân định này dựa trên những đặc trưng về phong cách nghệ thuật tạo hình, chứ không mang tính cột mốc lịch sử.
-Chúa sớm: Khi còn đóng vai trò thủ phủ, phụ thuộc và chịu sự quản lý của nhà Lê, còn tồn tại tổ chức Tam Ty, chưa xuất hiện Lục bộ. Hình như có sự trùng hợp giữa nghệ thuật tạo hình và bối cảnh lịch sử. Thói quen nghề nghiệp đã ăn sâu vào tiềm thức của những nghệ nhân theo chúa Nguyễn vào lập nghiệp đã ăn sâu vào tiềm thức của những nghệ nhân theo chúa Nguyễn vào lập nghiệp ở vùng đất mới, nên thời kỳ đầu, phong cách nghệ thuật vẫn mang dáng dấp Đàng Ngoài, do đội ngũ những người thợ Bắc Hà thể hiện.
-Chúa muộn: Thời kỳ Đàng Trong tách dần ảnh hưởng vua Lê, không chịu sự quản lý của Đàng Ngoài. Mối quan hệ dần bị phá bỏ, từ đó phong cách nghệ thuật dần thay đổi, có những nét mới. Ở đây, chúng tôi không phân biệt rạch ròi, dứt khoát những dấu ấn của Trịnh, Tây Sơn trong phong cách nghệ thuật tạo hình đối với di tích lăng mộ. Sự tồn tại ngắn ngủi đó khó có thể định hình được phong cách riêng, dù đã có hệ tư tưởng riêng, một dòng văn học riêng.
-"Nhà Nguyễn": tức là thời các vua Nguyễn
1.2. Cơ sở lý thuyết
Hầu như lâu nay, khi bàn về lịch sử mỹ thuật Việt Nam thì mỹ thuật thời chúa Nguyễn có rất ít các công trình nghiên cứu; hơn nữa, lại không nghiên cứu thành giai đoạn riêng, độc lập mà thường ghép vào nền mỹ thuật Lê hoặc nhà Nguyễn. Vì vậy, đây là một vấn đề còn bỏ ngõ, trong đó có di tích lăng mộ.
Một số công trình nghiên cứu lăng mộ các chúa như "Lăng mộ các chúa Nguyễn (Lê Phan, 1998), "Dấu tích văn hóa thời Nguyễn" (Hồ Vĩnh, 1998), "Chín chúa-mười ba vua Nguyễn" (Nguyễn Đắc Xuân, 1996)... Những đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát nhóm lăng mộ thuộc thời các chúa, nên sự kế thừa tư liệu còn rất hạn hẹp. Ngoài khảo sát của L.Cadière về "Lăng mộ của người An Nam vùng phụ cận Huế" (1914), chủ yếu thiên về nhóm lăng mộ thời nhà Nguyễn; cùng một số bài nghiên cứu tải trên các tạp chí như "Huế với vấn đề lăng mộ cổ" (Hồ Vĩnh,1992, tr64-69); "Người An nam đầu tiên được các triều đại vua chúa nhà Nguyễn thừa nhận là vị tổ Phật giáo- Lăng pháp của ngài" (L.Sogny, 2004); "Chùa Thuyến Tôn và bia tháp ngài Liễu Quán" (Lê Nguyễn Lưu,1995, tr 119-127)... Đặc biệt là phát hiện năm 2001 của cán bộ Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật tại Huế về nhóm lăng mộ cổ thời chúa Nguyễn ở Quảng Trị.
Lăng mộ là một trong đối tượng bị triệt phá của các thế lực Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn-Nguyễn, theo quan điểm "xoá sạch lẫn nhau". Tuy nhiên, vẫn có một số lăng mộ sót lại còn khá nguyên vẹn, do ở xa trung tâm hay một lý do, cơ may nào đó, đặc biệt là ngoại lệ: mộ tháp của các danh tăng. Dù số lượng tồn tại còn quá ít, nhưng vẫn còn có những đóng góp lớn về mặt nghệ thuật tạo hình thời các chúa.
Lăng mộ không chỉ là những di tích để tưởng niệm người chết, mà còn phản ánh nhiều khía cạnh: nghệ thuật, quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan... Ở đây, chúng tôi chỉ muốn định vị phong cách nghệ thuật trên những cái chuẩn tạo hình của các nhóm mộ trước thời kỳ nhà Nguyễn.
1.3 Phương pháp tiếp cận
Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê ngẫu nhiên những loại hình lăng mộ không nằm trong qui định chung của lăng mộ nhà Nguyễn. Sau đó phân nhóm theo những định chuẩn về: nguyên vật liệu, cấu trúc, kiểu thức trang trí... và nội dung minh văn, để hệ thống hoá thành từng nhóm, căn cứ trên những tiêu chí đã đưa ra. Trong một số trường hợp, chúng tôi sử dụng các đối tượng nằm ngoài đề tài (lăng mộ nhà Nguyễn) để tìm ra đặc trưng của đối tượng khảo sát. Rồi chia làm hai nhóm: (1) Nhóm lăng mộ thuộc giai đoạn chúa sớm và (2) Nhóm lăng mộ thuộc giai đoạn chúa muộn.
Ngoài ra, một số lăng mộ không có niên đại hoặc không rõ chủ nhân nhưng cùng chung đặc điểm với hệ quy chiếu, chúng tôi cũng xếp vào một trong hai nhóm trên. Tuy nhiên, có hiện tượng là nếu căn cứ trên cùng chất liệu (vôi hàu), có những ngôi mộ do bị bào mòn qua thời gian, tạo nên bề mặt xô xảm và bên trong là vôi hàu giã thô, hoặc có loại tương tự như bên trong lại là vồi hàu giã mịn (có thể thời gian sau được giã mịn). Ở đây, chúng tôi sẽ kết hợp với việc tìm hiểu cấu trúc, kiểu thức trang trí... để phân loại.
Qua chia nhóm, chúng tôi đặt chúng trong trục đối sánh vấn đề giữa các thời kỳ, để thấy được sự chuyển tiếp, kế thừa và những nét đặc trưng trong phong cách nghệ thuật. Chỉ mong kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp về mặt tư liệu cho các di tích lịch sử văn hoá; đồng thời, có những cảm nhận bước đầu về phong cách mỹ thuật thời các chúa.
Kế thừa về mặt tư liệu của các công trình nghiên cứu trước đó, tháng 10/2004, chúng tôi tiến hành khảo sát điền dã trên vùng đất Trị-Thiên, với đối tượng gồm hai nhóm: nhóm lăng mộ có niên đại rõ ràng thời các chúa và nhóm lăng mộ chưa xác định được niên đại:
(1) Nhóm lăng mộ Nguyễn Khoá ở núi Ngự Bình (An Cựu-Huế) [Nguyễn Khoa Danh (1632-1697), Nguyễn Khoa Hiệp (1694-1757), Trần Thị Xuân (1725-1757), Trần Thị Lựu (1699-1751)]; Vĩnh Diên (Đoàn Quí phi [1601-1661] ở Quảng Nam), Chiêu Nghi (1716-1750); Mộ tháp hai vị danh tăng Nguyên Thiều và Liễu Quán ở Huế.
(2) Khảo sát 5 lăng mộ ở Văn Quỷ (Quảng Trị)
(3) Và đã phát hiện được một ngôi mộ vô chủ, dân địa phương gọi là "mả rùa" ở làng Hà Trung (Quảng Trị), một ngôi mộ chưa xác định được chủ nhân, niên đại ở La Chữ (Huế). Phải chăng những ngôi mộ vô chủ nằm rải rác trên dải đất miền Trung, mà dân gian thường gọi "mả vôi", "mả rùa", "mả Tàu", "mả Mọi", "mả Hời", "mả trứng", được xây dựng dưới thời chúa Nguyễn.
2. Kết quả khảo sát
2.1 Nhóm lăng mộ ở Văn Quỷ (Hải Tân, Hải Lăng, Quảng Trị)
Nhóm lăng mộ này nằm trong nghĩa địa phía đông- đông nam làng Văn Quỷ, bao gồm 5 ngôi nằm rải rác trên một khu vực rộng khoảng 1.000m2, về cơ bản vẫn còn nguyên dạng nhưng thành lăng đã bị đứt gãy nhiều, một số nền nấm sụt lún hoặc bị vùi lấp và che kín bởi đất cát, cỏ rác.
Xét về mặt chất liệu, các công trình này được xây dựng bằng vôi mật, không có cốt gạch. Những lớp vôi vữa ở một số thành lăng đã được người thợ làm thành từng lớp hằn chạy dọc theo thành lăng, tạo nên những đường gờ song song mà mới nhìn, dễ liên tưởng có sự sắp xếp của cốt gạch hay thẻ đá bên trong. Ở hiện trường, vẫn còn giữ lại nhiều vỏ hàu hế chưa giã nát, có thể quan sát được. Đây cũng là loại vật liệu thường thấy ở loại hình "mả Tàu", "mả vôi" hay "mả Mọi", "mả Hời"... mà dân gian thường gọi, rải rác khắp nơi ở miền Trung.
Về cấu trúc lăng, điều cần nhấn mạnh ở đây là độ dày của thành lăng, cổng lăng. Hình ảnh "lưỡng long" của vòng thành trong và nhất là các dạng thức của nấm mộ. Nhìn tổng thể, các lăng mộ đều có hai vòng thành bao quanh nấm. Vòng thành có dạng hình chữ nhật (ngôi số I) (1) hoặc hình bầu dục (ngôi mộ số II (2), số III (3) ).
Nấm mộ ở khu lăng này đều là những tác phẩm điêu khắc tượng tròn hoàn chỉnh. Ngôi mộ số I có hình ảnh linh quy rất sinh động với mai, đầu nhìn thẳng, cũng như khoảng phân định giữa mai và chân đều được tạo hình một cách sắc sảo. Nấm hình rùa được đặt trên bệ chữ nhật khá đăng đối. (4)
Còn nấm mộ số II lại là hình ảnh quả đào tiên (5) được biểu hiện nguyên khối, với những sống lõm theo chiều dọc của thân quả; các chi tiết cuống và dưới trái rất được chú ý theo phương pháp tả thực sống động. Nấm ở ngôi mộ số III có phần đơn giản hơn, dạng hình liếp- hai khối chữ nhật chồng lên nhau, tạo sự vững chãi, phù hợp với cấu trúc tổng thể lăng, theo một tỉ lệ hợp lí (6)
Phần cổng thường được xây nối tiếo với thành ngoài, bắt đầu từ trụ cổng theo lối gấp khúc kỷ hà và mở rộng dần ra ngoài. Mộ số I, cổng vòng thành mở 1m, vòng thành ngoài 1,25m. Một số I, cổng vòng thành trong 1m, vòng thành ngoài 1,25m. Một số II cũng tương tự, 1m và 1,85m; mộ số III: 1,05m và 1,8m. Xét về bố cục, lối thiết kế này tạo nên sự uy nghi bề thế cho lăng, cũng như làm quân bình cảm giác hình khối khi các phần cấu tạo hai vòng thành đều có xu hướng nhô cao ở phần sau của lăng. Và có thể, nó cũng mang chức năng làm bình phong hậu.
Kiểu thức trang trí, không chỉ có chất liệu, cấu trúc mà cả hệ hoá văn thể hiện trên mặt thành bọc và trụ cổng cũng khá giống nhau (hình tua dải, các góc gấp, vòng xoắn hướng tâm...). Trên mặt trước của lăng số I, chúng tôi nhận thấy hai bức phù điêu hình con lân đắp nổi, nếu nhìn từ ngoài vào, nét khắc sâu, đơn giản nhưng dứt khoát và mạnh mẽ, rất gần gũi với những mảng chạm trong điêu khắc Đàng Ngoài. Hình tượng Long đã xuất hiện với phần vòng thành trong có hai đầu rồng ngậm trân châu chầy theo hướng cổng, Lân (phù điêu ở mặt trái vòng thành ngoài), Qui (thể hiện bằng nấm mộ), Phụng (phải chăng đã bị bào mòn trên phần cách tường thành?). Hai bên thành lăng nhìn từ cổng, mặt trong của vòng thành lăng phía sau nấm mộ trang trí các đường rãnh sâu theo hình chữ nhật băt góc, tạo sự thanh thoát của vòng thành. Ở đây, có thể nhận ra các nhóm chủ đề thể hiện-qua trang trí thành bọc, cấu trúc lăng, cũng như hệ cổng, bia lăng hay nấm mộ: hoa dây, hồi văn lá, tứ linh. Đặc biệt, hình tượng nấm mộ linh vật (lân), linh quả (đào tiên) đều nằm trong hệ biểu tượng trường tồn, theo quan niệm truyền thống Đông phương. Điều đặt ra là hầu như các lăng mộ đều không còn bia mà chỉ duy nhất có ở ngôi mộ số II (7). Đây là tấm bia sa thạch, trán mang hình vòng cung, không thành những đường lượn nhún như bia mộ thường thấy. Hoa văn ở trán bia bị vỡ hai mảng, chỉ còn đủ cho chúng ta nhận ra hình mặt trời ở phần trung tâm thể hiện hình ảnh "lưỡng long triều nhật" quen thuộc. Hoa văn trên thân bia đăng đối hai bên là "long hoá" theo lối tứ long cách điệu hình dây lá. Rồng uốn mình theo dải dọc, thân có khoang, đầu ngẩng cao sau khi lượn vòng trong tư thế thân và đuôi ở phía trên. Nét chạm khoẻ, sâu, mạnh mẽ và dứt khoát, không quá thiên về chi tiết tỉ mỉ, nhưng vẫn tạo được sự sinh động và uyển chuyển trong lối đặc tả loại linh vật này.
Nội dung văn bia cho biết chủ nhân lăng mộ số II là vị Cai hợp, chức quan ở Tướng Thần Lại ty (8), người họ Trần ở Quảng Nam. Đó là bằng chứng quí giá khẳng định được niên đại, chủ nhân ngôi mộ và nhóm mộ kế cận cùng qui cách, chất liệu (Bia được dựng đương thời bởi các con trai, gái của vị Cai Hợp họ Trần) (Nguyễn Hữu Thông, 2001: 7,10).
Ngoài ra, chúng tôi còn phát hiện tại làng Hà Trung (Gio Châu, Gio Linh, Quảng Trị) một ngôi mộ bằng hợp chất vôi hàu giã thô, còn khá nguyên vẹn, với nấm rùa có kích thước tương đối lớn (dài 1,89m, rộng 1,50m, đầu cao 0,53m), mai rùa hoa văn hìnhlục giác, mắt hướng thẳng về trước, trông rất uy nghi, bề thế. Dù không còn vòng thành, nhưng nhìn tổng thể và dựa trên dấu vết còn lại, có thể vòng thành mộ hình chữ nhật. Lăng mộ này không có/ không còn bia đá, nhưng dựa vào cấu trúc chất liệu, hình dạng, có thể thấy nhiều nét tương đồng với ngôi mộ số I ở Văn Quỷ, vào giai đoạn chúa sớm.
Chú thích
(1) Ngôi mộ số I có vòng thành ngoài hình chữ nhật (dài 6m, rộng 5m, cao 0,6m, dày 0,45m), phía sau nấm mộ được xây cao 0,85, rộng 3,2m, tạo bức bình phong hậu. Vòng thành trong hình bầu dục đắp đầu giao long cao 0,72m, hai bên vòng thành chỉ cao 0,17m, dày 0,4cm. Mộ không có bia.
(2) Ngôi mộ số II, cũng với hai vòng thành nhưng có hình oval, qui mô lớn hơn, vòng thành ngoài dài 8,76m, rộng 7,1m, độ cao nơi thấp nhất 0,34m, nơi cao nhất 0,83m, phần cổng cao 0,53m, dày 0,55m. Vòng thành trong độ cao nơi cao nhất 0,34m, thấp nhất 0,17m, dày 0,31m.
(3) Ngôi mộ số III cũng có hai vòng thành hình bầu dục nhưng qui mô hơn, vòng ngoài dài đến 10,33m, rộng 6,7m, tường phần sau mộ cao đến 1,05m, phía hai bên cao 0,57m, dày 0,50m, trụ cổng cao 0,80m. Vòng thành cao 0,20m, dày 0,39m, cổng đắp nổi hình giao long cao 0,54m.
(4) Bệ nấm có kích thước 2,20m x 1,50m, nấm rùa cao 0,45m, dài 1,35m, rộng 0,90m.
(5) Trái đào cao 0,45m, dài 2,47m, rộng 1,1m, đặt trên bệ nấm hình gần tròn rộng 2,1m.
(6) Tầng một 2,5m x 1,5m, tầng trên 1,85m x 0,95m.
(7) Văn bia được chạm theo lối chữ chân, góc trên tả, hữu của mặt bia khắc hai chữ Việt Cố khá lớn (5cm x 5cm), ở giữa khắc dòng chữ nhỏ hơn (4cm x 4cm): "Đầu khảo Quảng Nam Tướng Thần Lại ty Cai hợp Trần Quí công chi mộ". Dòng chữ bên trái (3,5cm x 3,5cm): "Hiếu tử nam nhị, nữ tứ đồng lập thạch". Dòng bên phải (3,5 cm x 3,5 cm): "Long phi Kỷ Hợi lương (?) (bị vỡ không đọc được) cát đán (?) (bị vỡ không đọc được)".
(8) Trong hệ thống tổ chức chính dinh thời chúa Nguyễn, đứng đầu là Tam ty gồm: Xa Sai Ty, Tướng Thần Lại Ty, Lệnh Sử Ty. Đứng đầu Xá Sai Ty có Đô Ty và Ký Lục lo vấn đề tự tùng văn án Phụ trách Tướng Thần Lại ty là Cai bạ và 2 quan Cai hợp và Thủ hợp. Nhưng đến cuối đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã hình thành Lục bộ.
(Còn tiếp)
Trần Đức Sáng-Hoàng Thị Ái Hoa-Hoàng Minh Tuấn (Trích trong Thông tin khoa học)
